Tuyển sinh 2018: 2 nghịch lý chọn ngành, chọn trường đang gặp phải


Năm 2018 đánh dấu nhiều sự thay đổi trong cơ chế tuyển sinh đại học theo đề án của Bộ GD&ĐT đề ra: Giảm chỉ tiêu tuyển sinh ngành sư phạm, cho phép các trường tuyển sinh với những tổ hợp lạ,... Nhưng việc chọn ngành, chọn trường vẫn còn nhiều bất cập. 2 nghịch lý dưới đây là vấn đề mà mùa tuyển sinh 2018 đang gặp phải.

Nghịch lý tuyển sinh đầu vào: chọn ngành

tuyen sinh dai hoc

Để có kết quả thông kê chính xác, phải chờ sau khi công bố điểm thi THPT vào ngày 11/7 tới đây mới có thể thấy rõ biến động lớn về nguyện vọng của thí sinh vào trường đại học. Tuy nhiên, con số thống kê sợ bộ phần nào phản ánh được xu hướng đăng ký nguyện vọng trong năm nay. Những ngành hot vẫn thu hút nhiều thí sinh, tuy nhiên không ít ngành học có rất ít, thậm chí là chưa có thí sinh nào đăng ký

Để đánh giá về sự lựa chọn ngành nghề của thí sinh, thì cần đánh giá dựa trên tỷ lệ nguyện vọng trên chỉ tiêu tuyển sinh. Tỷ lệ càng cao cho thấy mức độ cạnh tranh của các khối ngành càng lớn:

  • Khối ngành VII: là khối có tỷ lệ cao nhất 7.88 (cứ một chỉ tiêu tuyển sinh thì có gần tám nguyện vọng đăng ký). Khối VII bao gồm các ngành: Nhân văn, Khoa học xã hội và hành vi, Báo chí và thông tin, Dịch vụ xã hội, An ninh quốc phòng
  • Khối ngành III: Gồm các ngành Kinh doanh, Quản lý, Pháp luật… với tỷ lệ 6.87
  • Khối ngành VI: Sức khỏe với tỷ lệ 6.86

lựa chọn ngành nghề

Khối ngành Sức khỏe có tổng Chỉ tiêu ít so với các khối ngành khác, là hơn 31 nghìn, nhưng có số Nguyện vọng đăng ký tới hơn 215 nghìn. Đáng chú ý, Khối ngành I (Sư phạm) vẫn thu hút đông thí sinh, với tỷ lệ là 5.64, mức độ cạnh tranh chỉ sau Khối ngành Sức khỏe. Nguyên nhân là do năm 2018 số chỉ tiêu ngành sư phạm bị cắt giảm hơn 40%, dẫn đến tỷ lệ nguyện vọng/ chỉ tiêu tăng cao

Khối ngành liên quan đến công nghệ vẫn rất thu hút nguyện vọng của thí sinh. cụ thể: Ngành công nghệ thông tin tại đại học Bách Khoa có số nguyện vọng 1 cao gấp 18 lần chỉ tiêu, còn nếu tính tổng số nguyện vọng thì con số này là khoảng 40 lần. Một số ngành khác như kỹ thuật ô tô, ngành điều khiển - tự động hóa, kỹ thuật cơ điện tử, công nghệ thực phẩm,... đều có tỷ lệ nằm trong khoảng 3 - 4.

Bên cạnh đó, một số ngành vẫn rất khó tuyển như Tài nguyên môi trường, Ngôn ngữ Nga (ngành Ngôn ngữ Nga hiện chưa có thí sinh nào đăng ký xét tuyển). Tỷ lệ đăng ký nguyện vọng có sự chênh lệch lớn đến vậy phản ánh độ "hot" của ngành nghề, xu hướng của thị trường chứ không phản ảnh sự tương thích giữa lựa chọn của thí sinh và năng lực thực sự của mỗi em. Chắc chắn rằng, những ngành hot có đông thí sinh đăng ký cần nhiều điều chỉnh sau khi các em điều chỉnh nguyện vọng dự tuyển

Nghịch lý chất lượng đầu ra: tỷ lệ thất nghiệp tăng cao

Theo phân tích của các chuyên gia, xu hướng chọn ngành nghề của TS hiện nay dựa trên 3 tiêu chí: nguyện vọng mong muốn, xu hướng tâm lý và tỉ lệ việc làm của sinh viên mà các trường đã công bố. Tỉ lệ ngành “hot” ít nhiều cũng phụ thuộc vào con số thống kê từ các trường. Dẫu thế, rất nhiều băn khoăn đang đặt ra, rằng những thống kê đó ai kiểm chứng?

tu-van-chon-nganh-khong-lo-that-nghiep

Trong đề án tuyển sinh 2018, Bộ GD&ĐT quy định các trường ĐH phải công bố tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm 2 năm gần nhất. Và nhiều trường đã công bố tỉ lệ này cao ngất ngưởng. Điểm đáng chú ý: các trường ngoài công lập công bố tỉ lệ sinh viên có việc làm cao hơn so với các trường công lập. Đơn cử như Trường ĐH Kinh tế tài chính TP HCM công bố 100% sinh viên của trường tốt nghiệp có việc làm; Trường ĐH Tài chính ngân hàng Hà Nội cũng công bố 100% sinh viên tốt nghiệp 2 khóa gần nhất có việc làm; Trường ĐH Công nghệ Đông Á (Bắc Ninh) tỉ lệ sinh viên có việc làm là 99,6%; Trường ĐH dân lập Phú Xuân (Huế) là 97%...

Trong khi đó, những trường ĐH công lập lại công bố tỉ lệ sinh viên có việc làm thấp hơn. Đơn cử ĐH Bách khoa Hà Nội là 90%, ĐH Bách khoa (ĐHQG TP HCM) 91%. Những trường khác như ĐH Ngoại thương, Kinh tế quốc dân, Kinh tế TPHCM, Học viện Ngân hàng tỉ lệ sinh viên có việc làm dao động 94-96%.

Nhận định từ các chuyên gia cho thấy, rất có thể các trường đẩy tỉ lệ sinh viên có việc làm lên phục vụ mục đích tuyển sinh. Cũng không ít trường hợp cách khảo sát của các trường chưa chặt chẽ, dẫn đến kết quả cuối cùng không thể hiện đầy đủ thông tin tin cậy. Chẳng hạn số mẫu khảo sát là bao nhiêu, tỉ lệ làm đúng ngành là bao nhiêu, làm trái ngành, bán thời gian có được gọi là có việc làm hay không.

Về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Kim Phụng- Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD&ĐT) cho biết, trong điều kiện đẩy mạnh tự chủ ĐH, việc công khai tình hình việc làm của sinh viên tốt nghiệp là trách nhiệm của các cơ sở đào tạo. Để từng bước nâng cao tính xác thực của kết quả khảo sát, Bộ GD&ĐT đã có những điều chỉnh trong hướng dẫn, yêu cầu các trường trong việc triển khai khảo sát, công khai tình hình việc làm của sinh viên tốt nghiệp sau 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận tốt nghiệp. Tới đây, Bộ GD&ĐT sẽ tổ chức kiểm tra tại một số trường về các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, trong đó có nội dung khảo sát và công khai tình hình việc làm của sinh viên tốt nghiệp, đồng thời công khai kết quả kiểm tra cho người học và xã hội biết.

Nguồn: 
Internet

Đối với các chương trình nằm trong hợp tác của AUM Việt Nam với các Trường, Quý phụ huynh và sinh viên có thể làm thủ tục đăng ký trực tuyến tại Văn phòng của AUM Việt Nam tương đương với một điểm nhập học của Trường. Mọi khoản thu theo đúng quy định của Trường và thủ tục được hỗ trợ nhanh chóng.

Đối với các trường khác, AUM Việt Nam sẽ cung cấp thông tin tối đa và tư vấn tận tình cho Quý phụ huynh và sinh viên để có lựa chọn phù hợp nhất với nguyện vọng và điều kiện hoàn cảnh cụ thể.

Quý Phụ huynh và sinh viên đăng ký tư vấn trực tuyến hoặc ghi danh tại địa chỉ:

Văn phòng tuyển sinh P101, Nhà B, Số 3 Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04 377 57420 | Hotline: 091 55 00 256